SỰ THỜ PHƯỢNG THẬT


Giăng 4:15-24 "Người phụ nữ nói: “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi không còn khát và khỏi đến đây múc nước nữa.” Ngài bảo: “Hãy đi gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” Người phụ nữ thưa: “Tôi không có chồng.” Đức Chúa Jêsus nói: “Chị bảo rằng chị không có chồng là phải, vì chị đã có năm đời chồng, còn người mà chị hiện có không phải là chồng chị; điều nầy chị đã nói thật.” Người phụ nữ nói: “Thưa ông, tôi nhận biết ông là một nhà tiên tri. Tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên núi nầy, còn các ông thì nói rằng thành Giê-ru-sa-lem mới là chỗ đáng thờ phượng.” Đức Chúa Jêsus đáp: “Nầy, người phụ nữ kia, hãy tin Ta, giờ sắp đến, các ngươi không còn thờ phượng Cha trên núi nầy hay tại thành Giê-ru-sa-lem nữa. Các ngươi thờ phượng Đấng các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng Đấng chúng ta biết, vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái. Giờ sắp đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha bằng tâm linh và chân lý; ấy là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm. Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý.”

Chúa Jesus đã giới thiệu Nước Sống cho người đàn bà Samari. Vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, bà đã cầu xin Chúa ban cho bà Nước Sống đó . Tuy nhiên, Chúa Jesus đã đưa bà vào sự thực hành điều kiện cần thiết để nhận Nước Sống. Đó chính là sự thờ phượng thật. 

I. THỜ PHƯỢNG KHÔNG VÌ MỤC ĐÍCH SAI LẠC HAY MÙ QUÁNG 
1. Mục đích sai lạc: c. 15 Người đàn bà Samari cầu xin Chúa ban nước sống để bà khỏi khát và không cần phải ra giếng múc nước. Có người cho rằng bà đã đùa vì nghĩ rằng Chúa cũng nói đùa. Tuy nhiên, dựa trên diễn tiến câu chuyện chúng ta thấy bà thật mong như thế, vì thật khổ sở cho bà phải ra giếng vào giữa trưa mỗi ngày để tránh mặt dân chúng trong thành. 


-->Nhiều người cũng đến với Chúa trong suy nghĩ của người đàn bà Samari. Họ mong Chúa sẽ đáp ứng nhu cầu vật chất cho mình, để cuộc sống đỡ vất vả , cuộc đời thoải mái, dễ chịu hơn. 

2. Không hiểu nhu cầu thật của mình: Sở dĩ người đàn bà Samari cầu xin như thế vì bà chưa biết đâu là nhu cầu thật của mình. Bà mong mình sẽ không gặp dân chúng, nhưng Chúa muốn bà có thể gặp dân chúng không còn mặc cảm, hổ thẹn. Bà mong nhu cầu vật chất, Chúa lại ban cho bà nhu cầu tâm linh sung mãn để có thể tràn ra cho người khác. Bà mong không còn khát nước nhưng Chúa lại ban cho bà niềm khát khao giúp đỡ nhiều người thoát cơn khát tâm linh. 

-->Nhiều người được sinh ra trong gia đình tín hữu cũng đi nhà thờ, cũng sinh hoạt như mọi tín hữu nhưng lại không biết đâu là nhu cầu thật của mình. 

II. THỜ PHƯỢNG BẮT ĐẦU BẰNG SỰ GIẢI QUYẾT TỘI LỖI 
1. Chúa bảo bà gọi chồng đến: c. 16 Dù thật sự khi được cứu, bà phải đem chồng bà đến với Chúa để cũng được cứu như bà, nhưng ở đây Chúa chỉ muốn nhắc cho bà điều cản trở nước sống đến với bà: Đó là tội lỗi. 

2. Chúa không chấp nhận sự giấu tội: Không ai thích nói về tội lỗi của mình. Tuy nhiên, nếu không thừa nhận để giải quyết nó thì không bao giờ có thể nhận nước sống của Chúa. Người đàn bà Samari muốn tránh né sự kiện tội lỗi vì nghĩ rằng hai điều trên không có liên hệ chi với nhau. Hơn nữa, mặc cảm tội lỗi đã khiến bà sợ phải đối diện với sự thật đau lòng đó. 

3. Chúa muốn bà thừa nhận tội lỗi: c. 17-18 Bằng một câu nói thật tế nhị, Chúa đã chỉ ra tội lỗi của bà cùng sự dằn vặt do tội lỗi đem đến. Ngài không lên án nhưng chỉ muốn bà thừa nhận tội lỗi để Ngài có thể giải quyết cho bà. Dù Ngài cảm thông với bà nhưng đối với Ngài, phải nhìn tội lỗi bằng cái nhìn của thiên đàng để giải quyết bằng sự ăn năn và từ bỏ nó để được thương xót (Châm ngôn 28:13 Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, Nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó thì sẽ được thương xót.)

-->Thờ phượng là tương giao, là bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời thánh khiết. Không giải quyết tội lỗi không bao giờ có thể bước vào mối tương giao với Đức Chúa Trời để có thể nhận Nước Sống từ nơi Ngài. 

III. THỜ PHƯỢNG PHẢI ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI 
1. Phải nhận thức đúng về đối tượng thờ phượng: Trước tiên phải nhận thức Đức Chúa Trời là Thần (C. 24). Ngài không bị giới hạn trong đền thờ Giêrusalem hay trên núi Garisim. Ngài hiện hữu mọi nơi. Ngài thấy rõ trong nơi sâu thẳm của tấm lòng. Sau đó, phải nhận thức Đức Chúa Trời là Cha (C. 23). Ngài không phải là Đấng xa lạ nhưng là Cha của mọi người kính sợ Ngài. Ngài là Cha yêu thương chăm sóc chu đáo con dân của Ngài. Ngài cũng là Cha của Chúa Jesus là Đấng được Cha sai xuống để ban nước sống. 

2. Phải thờ phượng Chúa với cả tâm thần: Tâm thần được dùng để chỉ con người bề trong gồm cả ý chí, tình cảm và ý chí. Tâm thần cũng chỉ phần khiến con người có thể tương giao với Đức Chúa Trời với một động cơ đúng đắn, với sự tôn kính chân thành và tình yêu sâu đậm với Chúa. 

3. Phải thờ phượng với lẽ thật: Lẽ thật phân biệt với sự giả dối. Vì thế Chúa muốn chúng ta đến với đúng lẽ thật là Chúa Jesus chứ không bước vào con đường giả dối, sai lạc của ma quỷ, của con người. Hơn nữa, Chúa cũng muốn chúng ta đến với Chúa với tất cả tấm lòng chân thật, không giả hình, không hình thức bề ngoài. 

Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người để ngợi khen Chúa, thờ phượng Ngài (Ê-sai 43:21) hầu cho con người có thể hương phước đầy trọn trong Ngài. Ngài đang tìm những người thờ phượng đẹp lòng Ngài để ban phước. Chúng ta đã đến với Chúa, thờ phượng Chúa cách đẹp lòng Ngài chăng?
Tin lành Giăng giản lược